Bộ Chính trị tổ chức hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Sáng 30/6/2026, Bộ Chính trị tổ
chức hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện
Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài. Chi bộ Ban Nội chính Tỉnh ủy tham dự Hội nghị tại hai điểm
cầu: Điểm cầu tại Hội trường Ủy ban nhân dân tỉnh và điểm cầu tại Phòng họp
trực tuyến 1, tầng 4, Trụ sở Tỉnh ủy.
Quang cảnh Hội nghị
tại điểm cầu chính Nhà Quốc hội.
Tại Hội nghị, đồng chí Phạm Gia Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ
tướng Thường trực Chính phủ báo cáo những nội
dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết nhằm thống nhất nhận thức và định hướng
tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống chính trị.
Về bối cảnh và yêu cầu đặt ra đối với
phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới: Sau gần 40 năm
đổi mới, chủ trương mở cửa và thu hút đầu tư nước ngoài của Đảng đã đạt được những
thành tựu to lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước. Mô hình
phát triển hiện nay cũng đã bộc lộ những giới hạn; chất lượng và sức lan tỏa của
một bộ phận dự án còn thấp; liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ; chuyển giao công nghệ, phát triển
công nghiệp hỗ trợ, thị trường vốn và đầu tư gián tiếp chưa tương xứng với tiềm
năng. Bối cảnh phát triển của đất nước và thế giới đang thay đổi sâu sắc; sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số,
chuyển đổi xanh, cùng sự tái cấu trúc các chuỗi cung ứng và dòng vốn quốc tế
đang mở ra cả thời cơ và thách thức mới. Chính từ yêu cầu đó, Bộ Chính trị đã
ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Quang cảnh Hội nghị tại điểm cầu
Hội trường Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau.
Những tư tưởng chỉ đạo và những điểm đổi
mới cốt lõi của Nghị quyết: Thứ nhất, chuyển từ tư duy thu hút đầu tư nước
ngoài sang phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết tiếp cận
toàn diện hơn, bao quát cả đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn
và các thiết chế tài chính quốc tế; coi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một
bộ phận hữu cơ của nền kinh tế, phát triển hài hòa với khu vực kinh tế trong nước
để phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia. Thứ hai, chuyển từ coi trọng quy mô vốn
sang coi trọng chất lượng, hiệu quả và giá trị gia tăng. Trọng tâm không còn là
thu hút nhiều dự án hơn, mà là lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, đổi mới
sáng tạo, quản trị hiện đại, có khả năng lan tỏa và đóng góp thiết thực vào
nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Thứ ba, chuyển từ ưu
đãi theo đầu vào sang ưu đãi theo kết quả. Chính sách ưu đãi được đổi mới theo
hướng gắn với việc thực hiện các cam kết về chuyển giao công nghệ, nghiên cứu
và phát triển, đào tạo nhân lực, liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển đổi
xanh và phát triển bền vững. Thứ tư, chuyển từ phát triển FDI đơn lẻ sang phát
triển đồng bộ hệ sinh thái các dòng vốn quốc tế. Đây là điểm mới nổi bật của
Nghị quyết khi đặt đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, thị trường vốn, trung
tâm tài chính quốc tế và các không gian phát triển mới (như khu thương mại tự do, các đặc khu kinh tế,...) trong một chỉnh
thể thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực. Thứ năm,
chuyển từ quản lý đầu tư sang kiến tạo môi trường đầu tư và phát triển. Nhà nước
tập trung hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia, phát triển
hạ tầng, nguồn nhân lực và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo để tạo môi trường thuận
lợi cho các nguồn lực trong nước và quốc tế cùng phát triển. Thứ sáu, chuyển từ
cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các địa phương sang điều phối phát triển ở tầm
quốc gia. Nghị quyết yêu cầu tăng cường liên kết vùng, liên kết giữa khu vực đầu
tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước, phát huy vai trò của các cực tăng
trưởng và các trung tâm tài chính, đổi mới sáng tạo để nâng cao hiệu quả phát
triển chung của nền kinh tế.

Quang cảnh tại điểm cầu phòng họp
trực tuyến 1, tầng 4, Trụ sở Tỉnh ủy Cà Mau.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đã xác định rõ
mục tiêu phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đến năm 2030 và tầm nhìn đến
năm 2045. Theo đó, Nghị quyết đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức
cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu
tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài nhằm nâng cao
năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan toả với các khu vực kinh tế trong nước,
thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung
ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và
khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia. Đến năm 2030, Nghị quyết đặt mục tiêu tạo chuyển
biến căn bản về chất lượng và hiệu quả phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài. Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu trở thành điểm đến hàng
đầu của các dòng vốn quốc tế chất lượng cao; đồng thời là trung tâm sản xuất, dịch
vụ, đổi mới sáng tạo và điều hành khu vực của nhiều tập đoàn đa quốc gia, qua
đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu; khu vực kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và đóng
góp khoảng 30% GDP.

Đồng chí Phạm Gia
Túc, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ
báo cáo những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết
số 10-NQ/TW.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đó, Nghị
quyết đã xác định hệ thống các nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm, 07 nhóm đột phá gồm: (1) Đổi mới nhận thức, thống nhất tư duy trong toàn hệ
thống chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển mạnh từ
tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển, coi kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài là một bộ phận hữu cơ của nền kinh tế và là động lực quan trọng nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia; (2) Đột phá về thể chế, tiếp tục hoàn thiện
môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và có sức cạnh tranh quốc tế; đổi mới
chính sách ưu đãi theo hướng gắn với kết quả thực hiện cam kết về công nghệ, đổi
mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực và phát triển bền vững; (3) Phát triển
đồng bộ nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông,
logistics, năng lượng, hạ tầng số và dữ liệu, tạo nền tảng thu hút các dự án
công nghệ cao và nâng cao chất lượng các dòng vốn đầu tư; (4) Định hướng thu
hút đầu tư thế hệ mới, ưu tiên các dự án công nghệ cao, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn,
trung tâm nghiên cứu và phát triển, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi
xanh và các ngành có giá trị gia tăng cao; (5) Nâng cao hiệu quả lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,
thúc đẩy liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, phát triển công nghiệp hỗ trợ, hệ
sinh thái đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, qua đó nâng cao
năng lực của doanh nghiệp trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn
cầu; (6) Phát triển đồng bộ đầu tư gián tiếp nước ngoài và thị trường
tài chính, đẩy mạnh nâng hạng thị trường chứng khoán, phát triển thị trường vốn,
trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do và các thiết chế tài chính hiện
đại để nâng cao hiệu quả huy động và phân bổ nguồn lực; (7) Nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường điều phối ở tầm quốc gia, hoàn thiện cơ
chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản
lý đầu tư, nâng cao năng lực dự báo, giám sát và bảo đảm môi trường đầu tư minh
bạch, ổn định, an toàn.
Phát biểu tại
hội nghị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cho biết, Nghị quyết số 10 thể hiện sự thay đổi trong tư
duy phát triển, không còn thuần túy mở cửa đón nhận dòng vốn mà đã chủ động lựa
chọn và sử dụng nguồn lực quốc tế để tạo dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tổng Bí
thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị các cấp, các ngành, các địa phương tập trung
quán triệt và tổ chức thực hiện tốt 8 nhiệm vụ trọng tâm:
Thứ nhất, phải thống nhất nhận thức, đổi mới
mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận
quan trọng của nền kinh tế quốc dân, cùng hợp tác, cạnh tranh lành mạnh và phát
triển với kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hợp tác.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế theo hướng
ổn định, minh bạch, có khả năng dự báo và phù hợp với thông lệ quốc tế. Các bộ,
ngành phải rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan đến đầu tư, kinh doanh
và thị trường. Kiên quyết xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn, thủ tục rườm
rà và cách hiểu không thống nhất giữa các cơ quan, địa phương.
Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị.
Thứ ba, bỏ tư duy ưu đãi đầu vào,
thay bằng hỗ trợ dựa trên kết quả đầu ra, gắn với mức độ thực hiện cam kết. Những
dự án có công nghệ tiên tiến, đầu tư nghiên cứu phát triển, đóng góp cho chuyển
đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo lao động Việt Nam, sử dụng nhà cung ứng trong
nước, chuyển giao công nghệ, tiết kiệm đất đai, năng lượng và giảm phát thải phải
được hỗ trợ tương xứng.
Thứ tư, phát triển mạnh hệ sinh thái
công nghiệp trong nước và liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh
nghiệp Việt Nam. Đây là nhiệm vụ trung tâm của Nghị quyết. Các bộ, ngành, địa
phương không chỉ mời gọi các tập đoàn nước ngoài mà phải đồng thời nâng cao
năng lực doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung ứng của họ.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao là điều kiện quyết định. Không có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia, kỹ thuật
viên và nhà quản trị giỏi thì không thể thu hút, giữ chân các dự án công nghệ
cao, cũng không thể chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, nghiên cứu, sản
xuất sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao.
Thứ sáu, đầu tư mạnh hơn cho hạ tầng
chiến lược và hạ tầng phục vụ nền kinh tế mới. Muốn thu hút các dự án lớn, công
nghệ cao, trung tâm dữ liệu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tài chính, khu
thương mại tự do hay nhà máy hiện đại, phải có điện ổn định, năng lượng sạch, cảng
biển, sân bay, đường cao tốc, đường sắt, hạ tầng số, khu công nghiệp sinh thái
và môi trường sống tốt cho chuyên gia, người lao động.
Thứ bảy, đổi mới căn bản công tác xúc
tiến đầu tư. Không tiếp cận tràn lan mà gặp gỡ có mục tiêu, chuẩn bị kỹ làm việc
với từng tập đoàn hoặc một nhóm tập đoàn, quỹ đầu tư, đối tác chiến lược (Xác định rõ đối
tác cần mời, ngành cần thu hút, địa điểm dự án và các điều kiện cần chuẩn bị về
đất đai, điện, hạ tầng, nhân lực, chính sách và nhà cung ứng). Phải đồng hành với nhà đầu tư từ
khi tìm hiểu đến triển khai, vận hành và mở rộng. Hỗ trợ sau cấp phép, tháo gỡ
vướng mắc cho dự án hiện hữu, tạo điều kiện, khuyến khích để nhà đầu tư mở
rộng đầu tư, giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển về nước. Cần cơ cấu lại
và nâng cao năng lực cơ quan xúc tiến đầu tư ở cả Trung ương và địa phương.
Thứ tám, phát triển thị trường vốn hiện đại
để thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp dài hạn, ổn định và có trách nhiệm. Nghị
quyết 10 không chỉ đặt vấn đề về FDI mà còn yêu cầu phát triển thị trường vốn,
nâng hạng thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, trung tâm tài chính quốc tế
và khu thương mại tự do.
Theo Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Nghị quyết 10 chỉ đi vào cuộc sống khi được tổ chức
thực hiện quyết liệt, thực chất, lấy kết quả làm thước đo. Mỗi bộ, ngành phải
có chương trình hành động cụ thể, rõ việc, rõ thời hạn, rõ trách nhiệm.