Sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, tổ chức các cơ quan tư pháp có nhiều đổi mới; hoạt động tư pháp có nhiều chuyển biến tích cực. Qua đó, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; đồng thời, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, cơ quan, tổ chức.

Đồng chí Dương Thanh Bình, Uỷ viên BCHTW Đảng, Bí thư Tỉnh uỷ, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh – Phát biểu chỉ đạo Hội nghị 9 tháng Tỉnh uỷ (ảnh TQV)

Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW, có thể khẳng định: Các mục tiêu, quan điểm, phương hướng và nhiệm vụ cải cách tư pháp nêu trong Nghị quyết số 49-NQ/TW được Ban Chỉ đạo tham mưu Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy chỉ đạo đạt nhiều kết quả quan trọng.

- Việc hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự, dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp được quan tâm thực hiện. Tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với Dự thảo Hiến pháp năm 2013; Dự thảo Bộ luật dân sự, Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật Thi hành án hình sự… với nhiều hình thức đa dạng, phong phú…Công tác tuyên truyền, phổ biến, triển khai các văn bản pháp luật hình sự, dân sự và thủ tục tố tụng tư pháp được thực thiện nghiêm túc. Tòa án nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị tập huấn với hơn 600 đại biểu là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án hai cấp…; Công an tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai cho 100% lãnh đạo, chỉ huy và cán bộ trực tiếp làm công tác điều tra tội phạm, hỗ trợ tư pháp; Viện Kiểm sát tổ chức tập huấn triển khai cho 100% công chức viện kiểm sát nhân dân hai cấp và tổ chức cuộc thi “Chúng tôi là kiểm sát viên” có 12 đội, 41 thí sinh dự thi với hằng trăm lượt cổ động viên tham dự, tìm hiểu và nắm được các quy định mới của pháp luật.

- Tổ chức, bộ máy các cơ quan tư pháp tiếp tục hoàn thiện. Bộ máy các cơ quan tư pháp đã được kiện toàn theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo quy định của Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Thi hành án dân sự sửa đổi,…

Tòa án nhân dân tỉnh có 03 phòng (Văn phòng; Phòng Tổ chức cán bộ, Thanh tra và Thi đua khen thưởng; Phòng Kiểm tra nghiệp vụ và Thi hành án), 05 Tòa chuyên trách (Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Hành chính, Tòa Kinh tế - Lao động, Tòa Gia đình và Người chưa thành niên). Xây dựng đề án sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức Tòa án nhân dân hai cấp; thành lập bộ phận hành chính tư pháp thuộc văn phòng Tòa án cấp huyện và bước đầu hoạt động hiệu quả. Đối với Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau và Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã thành lập 02 tòa, gồm Tòa Hình sự và Tòa Dân sự.

Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã tách Phòng Tổ chức - Cán bộ, khiếu tố thành 2 phòng: Phòng Tổ chức và Phòng Khiếu tố; tách Văn phòng Tổng hợp thành 2 phòng: Văn phòng và Phòng Thống kê tội phạm và Công nghệ thông tin; thành lập Phòng Kiểm sát việc giải quyết các vụ án hành chính, vụ việc kinh doanh, thương mại, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật (Phòng 10); thành lập Thanh tra (tương đương cấp phòng) thuộc Viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Hiện nay, tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh có 11 phòng và 09 Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố.

Tổ chức bộ máy Cơ quan điều tra được thực hiện theo Thông tư số 26/2018/TT-BCA, ngày 10-8-2018 của Bộ trưởng Bộ Công an về thẩm quyền điều tra hình sự trong Công an nhân dân và các đội điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện. Tổ chức Cơ quan điều tra cấp tỉnh gồm 01 Thủ trưởng và 07 Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, 01 Thủ trưởng và 02 Phó thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra, 01 Thủ trưởng và 02 Phó thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp; cấp huyện gồm 17 Thủ trưởng và Phó thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, 17 Thủ trưởng và Phó thủ trưởng Cơ quan Thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp.

Cơ quan thi hành án dân sự được kiện toàn, sắp xếp ổn định theo Luật Thi hành án dân sự, gồm Cục Thi hành án dân sự tỉnh (có 04 phòng chuyên môn trực thuộc) và 09 Chi cục Thi hành án dân sự cấp huyện.

Các phiên tòa được đổi mới theo tinh thần cải cách tư pháp. Vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được xác định rõ hơn theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh. Chất lượng tranh tụng tại phiên tòa được nâng cao; bảo đảm đúng trình tự, bảo đảm cho bị cáo, người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định; phán quyết của Tòa án chủ yếu căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người tham gia tố tụng khác, từ đó đưa ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục. Công tác thi hành án treo, cải tạo không giam giữ dần đi vào nền nếp; nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã trong giám sát, giáo dục người được hưởng án treo và trách nhiệm của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh trong thi hành các hình phạt không phải là hình phạt tù được thực hiện bảo đảm đúng quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

- Chế định bổ trợ tư pháp không ngừng hoàn thiện. Các chế định về tổ chức và hoạt động của luật sư tiếp tục có nhiều đổi mới; Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Đề án quy hoạch, phát triển đội ngũ luật sư trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 và kế hoạch triển khai thực hiện Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020. Số lượng luật sư không ngừng tăng, chất lượng hoạt động đang từng bước được nâng lên, vị trí, vai trò ngày càng được khẳng định. Đoàn luật sư tỉnh hiện có 52 luật sư thành viên, 15 người tập sự, 37 tổ chức hành nghề luật sư (tăng 33 luật sư và 23 tổ chức hành nghề luật sư so với trước khi thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW). Việc tham gia của luật sư trong các giai đoạn tố tụng được thuận lợi, nhất là việc tranh tụng tại phiên tòa, qua đó góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho tổ chức cá nhân, nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Tỉnh quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp; ban hành Quy chế phối hợp trong quản lý tổ chức và hoạt động giám định tư pháp trên địa bàn tỉnh. Tổ chức và hoạt động giám định tư pháp được quan tâm củng cố, kiện toàn; đội ngũ giám định viên tăng về số lượng, nâng cao chất lượng, được bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kiến thức pháp lý. Hiện có 78 giám định viên tư pháp, 02 tổ chức giám định tư pháp công lập, 19 tổ chức giám định theo vụ việc; đã tiếp nhận và thực hiện giám định 3.618 vụ việc. Chất lượng giám định cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác điều tra, truy tố, xét xử.

Chủ trương xã hội hóa hoạt động công chứng được triển khai thực hiện có hiệu quả, hoạt động công chứng ngày càng đi vào nền nếp, phục vụ tốt nhu cầu của nhân dân. Hiện có 06 tổ chức hành nghề công chứng (01 phòng công chứng, 05 văn phòng công chứng), với 12 công chứng viên; đã thực hiện công chứng 196.761 vụ việc, tổng thu phí hơn 24 tỷ đồng.

Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quyết định triển khai Đề án đổi mới công tác trợ giúp pháp lý giai đoạn 2015-2020 trên địa bàn tỉnh. Trung tâm Trợ giúp pháp lý có 02 phòng nghiệp vụ, 05 chi nhánh, với 26 cán bộ trợ giúp pháp lý, trong đó có 16 trợ giúp viên pháp lý; đã thực hiện trợ giúp được 23.787 vụ việc với 24.826 lượt người.

Thực hiện Nghị quyết số 107/2015/QH13 của Quốc hội, Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép thành lập Văn phòng Thừa phát lại Cà Mau (Sở Tư pháp tỉnh đã cấp giấy đăng ký và chính thức hoạt động từ ngày 10-4-2018). Từ khi hoạt động đến nay, Văn phòng Thừa phát lại Cà Mau đã thực hiện tống đạt trên 14.000 văn bản liên quan đến hoạt động tố tụng của Tòa án. Tòa án nhân dân tỉnh và tòa án nhân dân 08 huyện, thành phố (trừ Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hiển) đã ký hợp đồng và chuyển giao việc tống đạt các văn bản tố tụng cho Văn phòng Thừa phát lại Cà Mau.

- Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy và cấp ủy, tổ chức đảng cơ quan tư pháp. Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ-TW, đội ngũ cán bộ tư pháp có chuyển biến rõ rệt về số lượng và chất lượng.

Số lượng các bộ, công chức các cơ quan tư pháp tăng khá cao so với thời điểm triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW. Tong đó, Viện Kiểm sát nhân dân hai cấp có 173 biên chế, tăng 61 biên chế (35,2%); Tòa án nhân dân hai cấp có 190 biên chế, tăng 87 biên chế (5,8% ); Cơ quan điều tra có 201 điều tra viên (cấp tỉnh 54, cấp huyện 147; có 04 Điều tra viên cao cấp, 83 Điều tra viên trung cấp và 114 Điều tra viên sơ cấp); Cơ quan Thi hành án dân sự có 135 biên chế (trong đó, Cục Thi hành án dân sự 26, các chi cục Thi hành án dân sự huyện, thành phố 109) tăng 77 biên chế (57%).

Các cơ quan tư pháp đã đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ pháp luật, chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức. Tòa án nhân dân hai cấp có 41 công chức có trình độ Thạc sỹ, 147 công chức có trình độ Đại học (trong đó 12 công chức đang học Thạc sỹ), 02 công chức có trình độ Trung cấp; Cử nhân và Cao cấp lý luận chính trị 34 người, Trung cấp chính trị 107 người (đang học Cao cấp 05 người). Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đã đưa đi đào tạo, bồi dưỡng 833 lượt cán bộ, Kiểm sát viên, trong đó đào tạo 282 lượt (Cao học Luật 26, Đại học Luật 15, Cao cấp chính trị 56, Trung cấp chính trị 90, nghiệp vụ kiểm sát 105); bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ 551 lượt công chức, Kiểm sát viên. Cơ quan điều tra đưa đi đào tạo lý luận chính trị cho 26 Điều tra viên (trong đó: cao cấp 08, trung cấp 18); bồi dưỡng cấp chứng chỉ nghiệp vụ điều tra cho 27 Điều tra viên; bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ điều tra cho lãnh đạo, chỉ huy phụ trách công tác điều tra và dự nguồn bổ nhiệm các chức danh của Cơ quan điều tra cho 06 Điều tra viên. Cục Thi hành án dân sự tỉnh đưa 156 lượt công chức đi đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp; hiện có 02 công chức có trình độ thạc sĩ, 114 công chức có trình độ đại học, 26 cử nhân, cao cấp lý luận chính trị và 32 trung cấp.

Công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ có chức danh tư pháp được thực hiện khá tốt theo quy định. Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh điều động, luân chuyển 24 lượt cán bộ, Kiểm sát viên (luân chuyển 01, điều động 21, chuyển công tác sang ngành khác 02); Tòa án nhân dân tỉnh điều động, luân chuyển 52 lượt cán bộ, thẩm phán. Công an tỉnh điều động từ đơn vị này sang đơn vị khác 49 cán bộ, điều tra viên. Cục Thi hành án dân sự tỉnh điều động, luân chuyển 28 và biệt phái 10 lượt cán bộ, chấp hành viên.

Các cơ quan tư pháp đã xây dựng Đề án sắp xếp lại đội ngũ cán bộ, công chức gắn với việc thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17-4-2015 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25-10-2017 của Hội nghị lần thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh, Cục Thi hành án dân sự tỉnh đã đổi mới cơ chế tuyển chọn chức danh tư pháp, thực hiện hình thức thi tuyển ngạch sơ cấp, trung cấp, cao cấp đối với chức danh tư pháp theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2014, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Luật Thi hành án dân sự sửa đổi; riêng Công an tỉnh đã xây dựng Kế hoạch và phối hợp với Học viện Cảnh sát nhân dân - Bộ Công an tổ chức thi tuyển Điều tra viên năm 2019. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra; chủ động xây dụng kế hoạch thực hiện công tác phòng, chống tiêu cực trong hoạt động tư pháp và xử lý nghiêm những cá nhân vi phạm (Tòa án nhân dân tỉnh có 03 trường hợp cá nhân vi phạm, đều bị xử lý kỷ luật buộc thôi việc (trong đó có 02 trường hợp bị xử lý về hình sự)).

- Cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử không ngừng hoàn thiện và quyền làm chủ của nhân dân đối với cơ quan tư pháp tiếp tục phát huy. Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh giám sát chuyên đề về “Tình hình oan, sai trong việc áp dụng pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự và việc bồi thường thiệt hại cho người bị oan trong hoạt động tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật” đối với cơ quan tư pháp cấp tỉnh, cấp huyện; giám sát thường xuyên việc thi hành pháp luật về khiếu nại liên quan đến cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp.

Đồng chí Nguyễn Quốc Hận, Tỉnh uỷ viên, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tiếp xúc cử tri tại xã Việt Thắng, huyện Phú Tân (ảnh TQV)

Đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh chỉ đạo đưa nội dung giám sát hoạt động tư pháp vào chương trình giám sát hằng năm và là nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của Hội đồng nhân dân. Định kỳ 06 tháng một lần, Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét các báo cáo của người đứng đầu các cơ quan tư pháp. Thường trực Hội đồng nhân dân và Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh đã thực hiện 09 cuộc giám sát chuyên đề, làm việc trực tiếp với 32 lượt cơ quan, đơn vị và giám sát qua báo cáo đối với 56 lượt cơ quan, đơn vị về hoạt động tư pháp; tổ chức giám sát làm rõ 24 vụ việc liên quan đến chấp hành pháp luật về điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; khảo sát thực tế tại 06 nhà tạm giữ và trại giam trên địa bàn tỉnh. Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có 24 lượt chất vấn người đứng đầu các cơ quan tư pháp về chất lượng xét xử của Tòa án nhân dân, vai trò kiểm sát hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên đã chủ động, tích cực tham gia giám sát, phản biện, kiến nghị những vấn đề có liên quan đến công tác điều tra, xử lý tội phạm và quản lý, thi hành án hình sự nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật, phát huy vai trò dân chủ của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp, nhất là cơ quan điều tra, thi hành án hình sự, đã phối hợp các cơ quan liên quan tổ chức giám sát 22 cuộc về việc chấp hành pháp luật đối với công tác tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh, Nhà tạm giữ Công an huyện, thành phố; về công tác thi hành án hình sự đối với cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cấp tỉnh và việc thi hành án phạt cải tạo không giam giữ; tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Công an cấp huyện, cấp tỉnh.

Qua giám sát, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Thường trực và Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã ban hành 111 kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền của Trung ương và địa phương. Việc theo dõi thực hiện các kiến nghị sau giám sát luôn được quan tâm thực hiện; hầu hết các kiến nghị của cơ quan giám sát được cơ quan chức năng chỉ đạo và đề ra giải pháp giải quyết, qua đó hiệu quả giám sát ngày càng được nâng cao.

- Cơ sở vật chất các cơ quan tư pháp và tổ chức giám định tư pháp công lập được quan tâm đầu tư. Trụ sở làm việc của các cơ quan tư pháp (nhất là cấp huyện) hầu hết được đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp sửa chữa, diện tích đất đầu tư xây dựng được mở rộng. Tổng kinh phí từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW đến nay, Trung ương và địa phương đầu tư, hỗ trợ xây dựng mới, nâng cấp, sửa chữa trụ sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc của các cơ quan tư pháp trên 250 tỷ đồng; trong đó, kinh phí hỗ trợ của địa phương là 68,5 tỷ đồng. Hiện nay đang triển khai xây dựng trụ sở một số cơ quan tư pháp cấp huyện (Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân và Ngọc Hiển); trang thiết bị, phương tiện, điều kiện làm việc các cơ quan tư pháp cơ bản đáp ứng yêu cầu theo chủ trương “Ưu tiên trang bị phương tiện phục vụ công tác điều tra, đấu tranh phòng, chống tội phạm, công tác xét xử, công tác giám định tư pháp”.

Các cơ quan tư pháp đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động; đã xây dựng Trang thông tin điện tử đăng tải thông tin về hoạt động của đơn vị, thủ tục hành chính tư pháp, tuyên truyền pháp luật, tạo thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Cơ quan chức năng của tỉnh đang xem xét việc hỗ trợ kinh phí để triển khai kết nối mạng trực tuyến các phiên tòa đến Thường trực Tỉnh ủy (qua Ban Nội chính Tỉnh ủy) và Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh (qua Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân tỉnh).

- Cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp tiếp tục hoàn thiện. Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã kịp thời cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công tác tư pháp để lãnh đạo, chỉ đạo trong toàn Đảng bộ. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ về tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp; luôn quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao trình độ lý luận, ý thức chính trị của cán bộ, đảng viên các cơ quan tư pháp. Sau Đại hội đảng bộ huyện, thành phố và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, thứ XV, các chức danh chánh án Tòa án nhân dân và viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân hai cấp đa số là cấp ủy viên. Chỉ đạo phát triển đảng viên, xây dựng tổ chức đảng trong đoàn luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư…

Định kỳ hằng năm, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo kiểm tra luân phiên về vai trò, trách nhiệm của tập thể cấp ủy, ban cán sự đảng và cán bộ lãnh đạo các cơ quan tư pháp, trong đó tập trung kiểm tra việc lãnh đạo tổ chức quán triệt, thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng; vai trò lãnh đạo công tác thực thi pháp luật và lãnh đạo công tác tổ chức, cán bộ. Qua kiểm tra đã kịp thời chỉ đạo các cấp có thẩm quyền xử lý những tập thể, cá nhân sai phạm; chỉ đạo khắc phục những tồn tại, hạn chế; củng cố tổ chức, cán bộ và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan tư pháp hoàn thành nhiệm vụ.

Định kỳ hằng quý, Thường trực Tỉnh ủy chủ trì họp các cơ quan tư pháp, đồng thời giao Ban Nội chính Tỉnh ủy định kỳ hằng tháng họp các cơ quan tư pháp để kịp thời chỉ đạo tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động tư pháp, cải cách tư pháp, điều tra, xử lý các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng giao Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo xử lý. Qua đó, chỉ đạo kiểm điểm nghiêm túc đối với các tổ chức, cá nhân để các vụ án tồn đọng, kéo dài.

Nhìn lại sau 15 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về “Chiến lược cải cách tư pháp”; tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp và bổ trợ tư pháp được đổi mới, củng cố kiện toàn, bảo đảm quy định; chất lượng hoạt động tư pháp có chuyển biến tích cực. Chủ trương nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa được triển khai thực hiện hiệu quả, phán quyết của Tòa án căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nguyên tắc xét xử của Tòa án được bảo đảm theo luật định. Chất lượng điều tra, truy tố, xét xử từng bước được nâng lên; tiến độ xử lý án hầu hết bảo đảm thời hạn luật định; tình trạng oan, sai, bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan được hạn chế đến mức thấp nhất. Nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế, chức vụ và các vụ án hình sự nghiêm trọng, phức tạp khác đã được khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, bảo đảm tính răn đe, tạo được lòng tin trong quần chúng nhân dân. Công tác thi hành án dân sự có nhiều tiến bộ, tỷ lệ thi hành án đạt khá cao. Trụ sở làm việc của các cơ quan tư pháp được đầu tư xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp, cải tạo; trang thiết bị phục vụ hoạt động nghiệp vụ cơ bản đáp ứng yêu cầu. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tư pháp chặt chẽ hơn. Sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, giám sát của các cơ quan dân cử đối với các cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp được tăng cường. Những kết quả đạt được đã khẳng định chủ trương của Đảng về “Chiến lược cải cách tư pháp” là hoàn toàn phù hợp với thực tiễn và yêu cầu của tình hình mới.

Trịnh Quốc Vương