Đây là một trong những đạo luật quan trọng về tố tụng được Quốc hội thông qua theo tinh thần Hiến pháp mới, là đạo luật trực tiếp liên quan đến tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.  Luật có cấu trúc gồm 23 Chương, 372 Điều. Quá trình thực hiện, các cơ quan tố tụng gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định.

Thứ nhất: Điều 10 quy định về nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền: Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) theo quy định của Luật này khi có yêu cầu và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết”.

Trên thực tế việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức bị kiện còn chậm và chưa đầy đủ, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án làm ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết án.

Ảnh: Luật tố tụng hành chính 2015

Thứ hai: Khoản 2 Điều 42 quy định: Khi Viện trưởng vắng mặt, một Phó viện trưởng được Viện trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng trừ quyết định kháng nghị quy định tại điểm d khoản 1 Điều này. Tuy nhiên, Điều 2 Thông tư liên tịch số 03/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, ngày 31/8/2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân tối cao trên thì quy định Phó Viện trưởng được quyền ký quyết định kháng nghị. Như vậy, hai quy định trên mâu thuẫn với nhau, Thông tư quy định trái Luật tố tụng hành chính.

Thứ ba: Khoản 3, khoản 4 Điều 93 quy định:3. Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc xét thấy cần thiết, Tòa án yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình tài liệu, chứng cứ.

Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng có thể bị xử lý theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan. Việc xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. 4. Trường hợp Viện kiểm sát có yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều này”.

Điều luật quy định khá rõ nhưng việc thực hiện trong thực tế hết sức khó khăn. Thực tiễn có rất nhiều vụ phải tạm đình chỉ nhiều tháng, thậm chí nhiều năm vì lý do cơ quan lưu giữ tài liệu, chứng cứ không cung cấp cho Tòa án theo yêu cầu mà đến nay vẫn chưa có phương án khắc phục tình trạng này một cách hữu hiệu. Thực tế, một số trường hợp Tòa án và Viện kiểm sát có yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ nhưng hết thời hạn theo quy định mà cơ quan, tổ chức được yêu cầu vẫn không có văn bản trả lời cho Viện kiểm sát và Tòa án, thì Luật không quy định hình thức xử lý đối với cơ quan, tổ chức không cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án và Viện kiểm sát.

Mặc khác, thời hạn Viện kiểm sát kháng nghị bản án là 15 ngày, quyết định là 07 ngày. Do đó, điều luật này quy định thời hạn cung cấp chứng cứ cho Viện kiểm sát là 15 ngày là quá dài, trong khi đó thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát đã hết thì việc yêu cầu cơ quan tổ chức cung cấp chứng cứ không có ý nghĩa trong việc xem xét kháng nghị phúc thẩm (đối với Viện kiểm sát cấp sơ thẩm).

Thứ tư: Điều 112 quy định: Trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, Chánh án Tòa án có quyền kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng Luật không quy định cho Viện kiểm sát quyền này. Nếu trong trường hợp Tòa án không phát hiện văn bản quy phạm pháp luật có vi phạm mà Viện kiểm sát là cơ quan phát hiện và đã đề nghị Chánh án Tòa án kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật nhưng Chánh án Tòa án không kiến nghị thì sẽ xử lý như thế nào?

Thứ năm: Khoản 1, khoản 2 Điều 130 Thời hạn chuẩn bị xét xử: Thời hạn chuẩn bị xét xử đối với các vụ án được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật tố tụng hành chính là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án, đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án có quyền gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với trường hợp nêu trên.

Quy định này là khó thực hiện. Vì để giải quyết xong một vụ án hành chính, nhất là những vụ án có tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều đương sự phải thu thập chứng cứ từ nhiều nguồn thì cần phải có thời gian, cá biệt có trường hợp đương sự cố tình vắng mặt, Tòa án phải nhiều lần thực hiện việc cấp, tống đạt, niêm yết… dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án.

Ảnh: So sánh Luật tố tụng hành chính 2010 – 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành mới nhất

Thứ sáu: Khoản 1 và điểm b Khoản 2 Điều 193 quy định về thẩm quyền của Hội đồng xét xử:

“1. Hội đồng xét xử xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính… quyết định giải quyết khiếu nại và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

2. Hội đồng xét xử có quyền quyết định:

b) Chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện, tuyên hủy một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính trái pháp luật và quyết định giải quyết khiếu nại có liên quan (nếu có)…”.

Trường hợp khiếu kiện quyết định giải quyết lần 2 bị khiếu kiện còn thời hiệu nhưng các quyết định giải quyết lần đầu, quyết định hành chính bị khiếu nại đã hết thời hiệu khởi kiện thì thẩm quyền Hội đồng xét xử trong trường hợp này như thế nào? Với quy định trên có quan điểm cho rằng: Hội đồng xét xử có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp đối với tất cả các quyết định hành chính khác có liên quan đến quyết định hành chính bị khởi kiện mà không phụ thuộc vào việc các quyết định này còn hay hết thời hiệu khởi kiện. Nếu các quyết định này trái pháp luật thì Hội đồng xét xử có thẩm quyền hủy tất cả các quyết định hành chính có liên quan. Quan điểm khác cho rằng: Hội đồng xét xử có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp đối với tất cả các quyết định hành chính khác có liên quan đến quyết định hành chính bị khởi kiện mà không phụ thuộc vào việc các quyết định này còn hay hết thời hiệu khởi kiện. Mặc dù các quyết định có liên quan này trái pháp luật thì Hội đồng xét xử không có thẩm quyền hủy các quyết định này.

Thứ bảy: Khoản 2 Điều 156, Điều 200, khoản 2 Điều 224 quy định: ngoại trừ trường hợp Viện kiểm sát có kháng nghị còn lại các phiên tòa, phiên họp khi Kiểm sát viên vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa, phiên họp mà không ra quyết định hoãn. Việc quy định như trên sẽ gây rất nhiều khó khăn cho Viện kiểm sát vì thực tế hiện nay tại địa phương đa số các Kiểm sát viên phải kiêm nhiệm nhiều công tác khác nhau nhất là đối với Viện kiểm sát cấp huyện; hơn nữa quyết định đưa vụ án ra xét xử thời gian nào là do Thẩm phán chủ động quyết định nên thực tế xảy ra nhiều trường hợp một Kiểm sát viên có 02 hoặc nhiều vụ án cùng lên lịch xét xử cùng một thời điểm, hoặc cũng có trường hợp tuy lịch xét xử Tòa án lên không trùng nhưng do vụ án kéo dài nhiều ngày dẫn đến trùng với thời gian xét xử của vụ án khác mà không có Kiểm sát viên dự khuyết, hoặc đến ngày xét xử Kiểm sát viên được phân công bệnh không thể tham gia phiên tòa, trong những trường hợp này Kiểm sát viên không tham gia được phiên tòa, việc ra quyết định thay đổi Kiểm sát viên tham gia phiên tòa không thực hiện được, không gửi kịp cho đương sự để họ thực hiện quyền đề nghị thay đổi Kiểm sát viên… Do đó, Viện kiểm sát không thực hiện được việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa sẽ ảnh hưởng đến chất lượng phiên tòa.

Thứ tám: Điều 190, 240, khoản 2 Điều 270 quy định: Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án. Thông tư liên tịch số 03 không quy định cụ thể sau phiên tòa bao nhiêu ngày thì gửi bản phát biểu. Do đó, yêu cầu "gửi ngay" theo Luật tố tụng hành chính là rất khó khăn đối với Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, vì việc chuẩn bị bài phát biểu trước khi tham gia phiên tòa chỉ là bản dự thảo. Tại phiên tòa còn căn cứ vào nội dung xét hỏi, kết quả tranh luận, các tài liệu chứng cứ mới phát sinh tại phiên tòa…Từ đó, Kiểm sát viên mới có thể xây dựng được bản phát biểu đầy đủ và đưa ra quan điểm giải quyết vụ án một cách chính xác nhất. Ngay sau khi phiên tòa kết thúc thì Kiểm sát viên không thể hoàn thiện bản phát biểu về mặt hình thức để gửi cho Tòa.

Thứ chín: Tại khoản 3 Điều 311 quy định: Quá thời gian quy định tại khoản 2 Điều này… Có quyền gửi đơn đến Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành bản ản, quyết định của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 312 của Luật này. Hiện nay vấn đề này liên ngành Trung ương vẫn còn chưa thống nhất quan điểm xử lý là nếu hết thời hạn nêu tại khoản 2 mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì trong mọi trường hợp người được thi hành án phải có văn bản yêu cầu Tòa án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định buộc thi hành án hành chính hay không.

                                                          Nguyễn Thành Lập