Thứ nhất: Điều 61 Luật Thi hành án dân sự không quy định đối với những trường hợp người phải thi hành án bỏ địa phương, không xác định được địa chỉ, nơi cư trú hiện tại và không để lại tài sản thì được xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án. Hầu hết các trường hợp người phải thi hành án bỏ địa phương, không xác định được địa chỉ, nơi cư trú, không để lại tài sản, cơ quan thi hành án đều xác định người phải thi hành án đủ điều kiện để đề nghị xét miễn giảm mà không hề biết hiện tại tình hình kinh tế của người phải thi hành án như thế nào. Tòa án chỉ căn cứ vào biên bản xác minh của cơ quan thi hành án xác định người phải thi hành án không có tài sản để thi hành án mà ra quyết định miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án cho người phải thi hành án gây ảnh hưởng đến nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Ảnh: Luật thi hành án dân sự.

Thứ hai: Điều 95 Luật Thi hành án dân sự quy định: “Trường hợp kê biên nhà ở gắn liền với đất thuộc quyền sử dụng của người khác mà họ không đồng ý, thì Chấp hành viên vẫn tiến hành kê biên nhà ở”. Nhưng thực tế hiện nay kê biên nhà, không kê biên đất thì xử lý không được, chỉ tốn kém chi phí.

Thứ ba: Áp dụng biện pháp bảo đảm: Các Điều 176, 177, 178 Luật Thi hành án dân sự không quy định: Trường hợp Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng, Tổ chức tín dụng, bảo hiểm xã hội, cơ quan đăng ký tài sản và cơ quan khác không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời thông tin mà gây thiệt hại thì không có chế tài phải bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra, nên muốn cung cấp thì cung cấp, không thì thôi. Chính vì vậy đã ảnh hưởng đến kết quả tổ chức thi hành án.

Thứ tư: Đình chỉ thi hành án: Điều 50 Luật Thi hành án dân sự không quy định: Kể từ ngày quyết định đình chỉ thi hành án có hiệu lực, các đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không được yêu cầu thi hành án trở lại, nên còn có hai quan điểm:

+ Thứ nhất: Cho rằng Cơ quan thi hành án dân sự đã ra Quyết định đình chỉ thi hành án xem như việc thi hành án đã kết thúc là việc của Cơ quan thi hành án. Các đương sự tự giải quyết mà không được thì yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự thi hành tiếp.

+ Thứ hai: Cho rằng mặc dù Cơ quan thi hành án dân sự ra Quyết định đình chỉ thi hành án theo thỏa thuận của các đương sự nhưng các đương sự không thực hiện đúng như thỏa thuận thì có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự thi hành tiếp.

- Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự:

+ Đối với biện pháp khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án.

Theo quy định tại Điều 11 Luật Thi hành án dân sự thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp, thực hiện các yêu cầu của Cơ quan thi hành án dân sự và Chấp hành viên. Tuy nhiên, việc thu thập thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án gặp nhiều khó khăn, do hiện nay nước ta chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia về tài khoản, tiền gửi khách hàng trong các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại. Ngoài ra, khi đã xác minh được tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án thì khó khăn, các tổ chức tín dụng sẽ viện dẫn Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 để từ chối cung cấp thông tin về tài khoản của người phải thi hành án. Nếu Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên kiên quyết xác minh thì các đơn vị này cung cấp một cách hạn chế. Sau khi đã thu thập thông tin về tài khoản của người phải thi hành án thì các ngân hàng lại viện lý do số tiền lớn, phải xin ý kiến của hội sở hoặc viện lý do bảo vệ khách hàng nên trì hoãn việc thực hiện quyết định cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự, khiến vụ việc kéo dài, dẫn đến người được thi hành án bức xúc, khiếu nại Cơ quan thi hành nhiều lần sẽ gây thiệt hại không nhỏ cho người được thi hành án.

+ Đối với biện pháp cưỡng chế trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Khó khăn lớn nhất của biện pháp trừ vào thu nhập của người phải thi hành án là ý thức chấp hành pháp luật của người phải thi hành án và nhận thức, trách nhiệm của cơ quan liên quan. Nhiều trường hợp, người đang thi hành án chuyển chỗ ở, chuyển nơi công tác khiến Cơ quan thi hành án dân sự mất thời gian thông báo đến nơi ở, nơi công tác mới và các thủ tục phải bắt đầu lại từ đầu; người phải thi hành án cố tình trốn tránh nghĩa vụ làm cho công tác thi hành án dân sự gặp nhiều khó khăn.

+ Vấn đề định giá tài sản kê biên Điều 98 Luật Thi hành án dân sự: Ngay khi kê biên tài sản mà đương sự thoả thuận được về giá tài sản hoặc về tổ chức thẩm định giá thì Chấp hành viên lập biên bản về thỏa thuận đó. Giá tài sản do đương sự thỏa thuận là giá khởi điểm để bán đấu giá. Tuy nhiên, khi thỏa thuận giá, đương sự lại thỏa thuận quá cao so với thực tế, dẫn đến tài sản không bán được, người có thẩm quyền thi hành án ra quyết định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá, cho đến khi giá khởi điểm thấp hơn nghĩa vụ thi hành án. Như vậy, việc thi hành án sẽ bị kéo dài, án tồn đọng ngày càng nhiều.

Ảnh: Hỏi và đáp Luật thi hành án dân sự.

Thứ năm: Quy định việc xác định, phân chia, xử lý tài sản chung để thi hành án tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự quy định:

“1. Trường hợp chưa xác định được phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung để thi hành án thì Chấp hành viên phải thông báo cho người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản, quyền sử dụng đất biết để họ tự thỏa thuận phân chia tài sản chung hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự…

Hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo mà người được thi hành án không yêu cầu Tòa án giải quyết thì Chấp hành viên yêu cầu Tòa án xác định phần quyền sở hữu tài sản, phần quyền sử dụng đất của người phải thi hành án trong khối tài sản chung theo thủ tục tố tụng dân sự .Chấp hành viên xử lý tài sản theo quyết định của Tòa án…”

Tuy nhiên, trong thực tiễn khi thi hành vụ việc thi hành án một số bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật có tài sản chung, quyền sử dụng đất chung giữa người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản phải thi hành án hầu như không thể thi hành được. Mặc dù, Chấp hành viên giải quyết vụ việc thi hành án đã làm đầy đủ các bước theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Luật Thi hành án dân sự. Nếu người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản họ không chịu tự thỏa thuận phân chia tài sản, nhưng tòa án sẽ giải quyết việc phân chia tài sản cần có lời khai của đương sự về công sức đóng góp trong khối tài sản chung đó làm căn cứ để Tòa án giải quyết việc phân chia tài sản; khi người phải thi hành án và những người có quyền sở hữu chung đối với tài sản họ không phối hợp thì Tòa án không thể phân chia tài sản chung được, nên việc thi hành án trong trường hợp này không thể thực hiện.

Thứ sáu: Khi xử lý tài sản để thi hành án là quyền sử dụng đất thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác đang giữ thế chấp. Nếu căn cứ Điều 11 Nghị quyết 42/2017/QH14, ngày 21/6/2017 của Quốc hội thì không được kê biên thực hiện nghĩa vụ khác (trừ một số trường hợp). Từ đó, làm cho vụ việc thi hành án kéo dài ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án.

Thứ bảy: Điểm e khoản 4 Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định: Khi xác minh điều kiện thi hành án, Chấp hành viên có trách nhiệm sau đây:

e) Lập biên bản thể hiện đầy đủ kết quả xác minh có xác nhận của Ủy ban nhân dân hoặc Công an cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân nơi tiến hành xác minh.

Luật sửa đổi, bổ sung không quy định có sự xác nhận của Tổ trưởng Tổ dân phố (Trưởng ban nhân dân ấp) như Luật Thi hành án dân sự năm 2008. Thấy rằng việc quy định này dẫn đến kết quả xác minh điều kiện thi hành án không được khách quan, chính xác. Bởi lẽ, Tổ trưởng Tổ dân phố (Trưởng ban nhân dân ấp) là người nắm rõ nhân thân, điều kiện gia cảnh của người phải thi hành án.

                                                                       Nguyễn Thành Lập