Trình tự, thủ tục tiến hành giải quyết vụ án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân... Quá trình thực hiện, các cơ quan tố tụng gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định.

Thứ nhất: Tại khoản 1 Điều 67 quy định: “Người chứng kiến là người được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu chứng kiến việc tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này”; điểm b, khoản 4, Điều 67 quy định về nghĩa vụ của người chứng kiến “Chứng kiến đầy đủ hoạt động tố tụng được yêu cầu”.

Theo quy định trên, Cơ quan điều tra khi tiến hành làm việc với nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, bị hại mà không biết chữ, sẽ yêu cầu người chứng kiến. Nhưng trên thực tế, để yêu cầu người chứng kiến liên tục chứng kiến toàn bộ quá trình hoạt động tố tụng là rất khó khăn. Bộ luật Tố tụng hình sự chỉ quy định thủ tục đăng ký người bào chữa không quy định thủ tục đăng ký người chứng kiến.

Ảnh: Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Thứ hai: Khoản 6 Điều 78 Thủ tục đăng ký bào chữa quy định: “Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:

a) Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;

b) Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa...”

Theo đó, đối với trường hợp đã có văn bản thông báo người bào chữa nhưng xảy ra các trường hợp quy định tại điểm a, b khoản 6 Điều 78 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xử lý như thế nào? Có cần ra văn bản thông báo hay không thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không quy định.

Thứ ba: Tại Điều 83 và Điều 84 quy định: “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố”, “Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” nhưng chưa quy định về thủ tục đăng ký hoặc cấp giấy chứng nhận cho những người này. Cần ban hành văn bản quy định về thủ tục đăng ký hoặc cấp giấy chứng nhận cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại, đương sự.

Thứ tư: Điều 89 quy định: “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”; khoản 1 Điều 106 quy định: “Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản”.

Theo quy định như trên, việc xử lý vật chứng là ở giai đoạn đã ra quyết định khởi tố vụ án nhưng không quy định rõ việc xử lý vật chứng ở giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm trong trường hợp Cơ quan điều tra, Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành xác minh giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự (đã kết thúc).

Thứ năm: Điều 100 Kết luận giám định: Không quy định cụ thể trường hợp có hai kết luận giám định về cùng một nội dung nhưng khác nhau về kết quả thì xử lý thế nào dẫn đến trường hợp đánh giá, nhận xét khác nhau.

Thứ sáu: Khoản 2 Điều 127 quy định: “Dẫn giải có thể áp dụng đối với:

a) Người làm chứng trong trường hợp họ không có mặt theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

b) Người bị hại trong trường hợp họ từ chối việc giám định theo quyết định trưng cầu của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mà không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan;

c) Người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố mà qua kiểm tra, xác minh có đủ căn cứ xác định người đó liên quan đến hành vi phạm tội được khởi tố vụ án, đã được triệu tập mà vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”.

Theo quy định trên, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế dẫn giải chỉ áp dụng ở giai đoạn khởi tố vụ án mà không quy định việc áp dụng dẫn giải ở giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Mặt khác, không có văn bản quy định như thế nào là “không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan”, gây khó khăn cho việc hiểu, áp dụng vào thực tiễn.

Thứ bảy: Tại khoản 4 Điều 145 quy định: “Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố”; điểm g khoản 1 Điều 57 quy định quyền của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố được thông báo kết quả giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố.

Tuy nhiên, Thông tư số 61/2017/TT-BCA, ngày 14/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự, chỉ ban hành 2 mẫu thông báo kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố mà không ban hành mẫu thông báo kết quả giải quyết tố giác, kiến nghị khởi tố cho người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố.

Thứ tám: Tại khoản 1 Điều 148 quy định: “Hết thời hạn quy định tại Điều 147 của Bộ luật này, cơ quan có thẩm quyền giải quyết quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Đã trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp nhưng chưa có kết quả;

b) Đã yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án nhưng chưa có kết quả”.

Theo quy định như trên, đối với những vụ việc mà người bị tố giác không có mặt ở địa phương (đã tiến hành xác minh nhưng không rõ đi đâu, làm gì) gây khó khăn trong việc giải quyết và đã hết thời hạn quy định tại Điều 147 thì không thể ra quyết định tạm đình chỉ theo quy định tại Điều 148. Do đó, cần bổ sung hoặc có hướng dẫn cụ thể để thống nhất trong thực hiện.

Thứ chín: Tại khoản 1 Điều 183 quy định: “Việc hỏi cung bị can do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can”. Quy định này gây khó khăn cho Cơ quan Cảnh sát điều tra trong trường hợp bắt bị can để tạm giam. Vì lệnh bắt bị can để tạm giam phải được phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thực hiện, khi Cơ quan Cảnh sát điều tra quyết định khởi tố và hỏi cung ngay thì bị can biết rằng mình đã bị khởi tố, trong thời gian chờ Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh bắt bị can để tạm giam thì bị can có thể bỏ trốn.

Tại Khoản 6 Điều 183 quy định: “Việc hỏi cung bị can tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh. Việc hỏi cung bị can tại địa điểm khác được ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh theo yêu cầu của bị can hoặc của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng”; điểm c khoản 2 Điều 5 Thông tư số 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP, ngày 01/02/2018 của Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh, quy định: “Trường hợp không bố trí được thiết bị ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh thì không được tiến hành hỏi cung”.

Thực tế, tại một số địa phương, Bộ Công an chưa trang bị hệ thống, trang thiết bị, cơ sở vật chất, điều kiện cần thiết khác để phục vụ việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh tại cơ sở giam giữ hoặc tại trụ sở Cơ quan điều tra. Một số trường hợp bị can hoặc người bào chữa yêu cầu phải có hệ thống, phương tiện phục vụ việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh thì mới đồng ý làm việc, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác điều tra, làm rõ nội dung vụ án…

Ảnh: Bình luật những điểm mới cơ bản của  Bộ Luật tố tụng hình sự 2015

Thứ mười: Điều 214 quy định: “1. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị trưng cầu giám định của bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải xem xét, ra quyết định trưng cầu giám định.

2. Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết quả giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan”.

Theo quy định này, chỉ trường hợp người tham gia tố tụng có đề nghị trưng cầu giám định theo khoản 1 Điều này thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng mới thông báo kết quả giám định cho người đề nghị giám định biết hay tất cả các trường hợp giám định “Trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được kết quả giám định thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo kết luận giám định cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan” như quy định tại khoản 2. Bởi trong thực tế, việc thông báo cho bị can, bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác có liên quan về kết quả giám định, nhất là kết quả giám định không có giá trị chứng minh tội phạm, đối tượng không nhận tội… gây khó khăn cho quá trình xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Thứ mười một: Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung, quy định về vị trí chỗ ngồi của Kiểm sát viên tại Điều 257 quy định như sau: “Phòng xử án phải được bố trí trang nghiêm, an toàn, bảo đảm sự bình đẳng giữa người thực hành quyền công tố và luật sư, người bào chữa khác” và giao cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định. Tại Thông tư số 01/2017/TT-TATC ngày 28/7/2017 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quy định “Phòng xử án phải bảo đảm không gian để tiến hành phiên tòa, phiên họp và hàng rào ngăn cách giữa khu vực của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng với khu vực của người tham dự phiên tòa, phiên họp; phải bố trí lối đi riêng của Hội đồng xét xử, Hội đồng giải quyết việc dân sự, phá sản, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, chủ trì phiên họp; lối đi của những người tiến hành tố tụng khác, người tham gia tố tụng, người tham dự phiên tòa, phiên họp…”. Tuy nhiên, hiện nay đa số các Phòng xử án đều chưa thực hiện đúng theo Thông tư 01 như hàng rào bảo vệ, lối đi riêng cho người tiến hành tố tụng khác từ đó chưa đảm bảo được “an toàn” cho Kiểm sát viên theo quy định tại điều 257 Bộ luật tố tụng hình sự nên ảnh hưởng đến chất lượng hiệu quả công tác tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Thứ mười hai: Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế:

- Khoản 1 Điều 278 quy định: Sau khi thụ lý vụ án, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trừ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định”. Tuy nhiên, đoạn 2 khoản 2, Điều 276 về nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án quy định: “Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng thì Tòa án phải thụ lý vụ án. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án phải phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa giải quyết vụ án.”

- Khoản 2 Điều 278 quy định: “Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277”.

Điều 277 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có 3 khoản, trong đó khoản 1 quy định thời hạn từ ngày thụ lý đến ngày ra quyết định đưa vụ án ra xét xử; khoản 3 quy định thời hạn từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến ngày mở phiên tòa. Như vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 278 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì thời gian từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến ngày mở phiên tòa không được áp dụng biện pháp tạm giam nên cần bổ sung vấn đề này cho phù hợp.

Như vậy, giữa 2 quy định trên có sự chênh lệch về thời gian. Cụ thể, là sau khi thụ lý vụ án có tối đa 03 ngày chưa phân công Thẩm phán giải quyết vụ án thì không thực hiện quy định tại khoản 1 Điều 278 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp.

- Khoản 2 Điều 278 “Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 của Bộ luật này…”

Hiện nay chưa có định nghĩa chính thức về thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều 277 là như thế nào? Thời hạn chuẩn bị xét xử là khoảng thời gian được tính từ ngày thụ lý đến khi ra một trong các quyết định quy định tại khoản 1 Điều 277 hay được cộng thêm 15 ngày như hướng dẫn tại Nghị quyết 04/2004/NQ-HĐT ngày 05/11/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Thứ mười ba: Về thời hạn tạm giam khi tạm đình chỉ vụ án và trường hợp hoãn phiên tòa: Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 chưa quy định về thời hạn tạm giam trong trường hợp Tòa án tạm đình chỉ vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 229 và trường hợp hoãn phiên tòa theo quy định tại Điều 297 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Thứ mười bốn: Điều 347 quy định về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, quy định: Trong điều luật chưa quy định đối với trường hợp, khi bị cáo bị tạm giam đến kết thúc phiên tòa hoặc thời hạn tạm giam chỉ còn 01, 02 ngày. Trước khi mở phiên tòa, bị cáo có văn bản rút toàn bộ kháng cáo. Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa đình chỉ việc xét xử phúc thẩm. Trong trường hợp này, không có quy định ai được quyền tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo rút toàn bộ kháng cáo, Hội đồng xét xử được quyền tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo việc thi hành án hay không. Vấn đề này chưa được hướng dẫn cụ thể.

Thứ mười lăm: Khoản 1 khoản 2 Điều 348 về đình chỉ xét xử phúc thẩm quy định: 1. Tòa án cấp phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với vụ án mà người kháng cáo đã rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát đã rút toàn bộ kháng nghị. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm trước khi mở phiên tòa do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định, tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định. Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.

2. Trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị trước khi mở phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút…..”.

Tuy nhiên, Điều luật không có quy định đối với trường hợp: Người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị tại phiên tòa mà xét thấy không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị khác thì Hội đồng xét xử có cần phải đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần kháng cáo, kháng nghị đã rút hay không. Việc đình chỉ xét xử phúc thẩm được ghi nhận trong bản án hay ban hành quyết định riêng biệt. Hiệu lực pháp luật của phần kháng cáo, kháng nghị được rút được tính như thế nào.

                                                                  Nguyễn Thành Lập