Với nhiều quy định về thẩm quyền của Tòa án; cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; thành phần giải quyết việc dân sự; người tham gia tố tụng; chứng minh, chứng cứ; biện pháp khẩn cấp tạm thời; chi phí tố tụng... Bộ luật cấu trúc gồm 10 Phần, 42 Chương, 517 Điều. Quá trình thực hiện, các cơ quan tố tụng gặp một số khó khăn, vướng mắc nhất định do chưa có hướng dẫn thi hành.

Thứ nhất: Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, tại Điều 7 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây gọi là Viện kiểm sát) tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát”.

Trong thời gian qua khi xét thấy cần thu thập chứng cứ Tòa án đã ra Quyết định thu thập chứng cứ theo đề nghị của đương sự và gửi đến cơ quan nơi đang lưu giữ chứng cứ. Song, việc cung cấp chứng cứ của các cơ quan này thường chậm, Tòa án phải có nhiều văn bản nhắc nhở mới cung cấp. Có trường hợp không lưu giữ chứng cứ nhưng Cơ quan được yêu cầu cung cấp cũng không kịp thời ban hành văn bản phúc đáp là không cung cấp được. Trường hợp này xảy ra Tòa án chỉ có việc tiếp tục có văn bản nhắc nhở mà không có được biện pháp nào khác. Vấn đề này gây rất nhiều khó khăn cho công tác thu thập chứng cứ, ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết án. 

Thứ hai: Khoản 2 Điều 24 quy định về bảo đảm tranh tụng trong xét xử: “Đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự và có nghĩa vụ thông báo cho nhau các tài liệu,chứng cứ đã giao nộp; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu cầu, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác theo quy định của Bộ luật này.”

Trên thực tế các đương sự không thông báo cho nhau các tài liệu chứng cứ đã giao nộp theo luật quy định nhưng luật tố tụng cũng không có quy định nào về chế tài đối với đương sự không thực hiện nghĩa vụ. Vấn đề này gây rất nhiều khó khăn cho công tác thu thập chứng cứ, ảnh hưởng đến việc tranh tụng của các đương sự và tiến độ giải quyết án. 

Thứ ba: Khoản 5 Điều 96 quy định về giao nộp tài liệu, chứng cứ: “Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác; đối với tài liệu, chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật này hoặc tài liệu, chứng cứ không thể sao gửi được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự khác hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự khác”.

Trường hợp đương sự không sao gửi các tài liệu, chứng cứ cho đương sự trong vụ án thì xử lý thế nào và hậu quả pháp lý của việc không gửi vì trên thực tế đương sự không thực hiện nghĩa vụ này.

Thứ tư: Khoản 3 Điều 106 quy định về yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ: “Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân không phải là lý do miễn nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án”.

Điều luật quy định khá rõ, nhưng việc thực hiện trong thực tế hết sức khó khăn. Thực tiễn có rất nhiều vụ phải tạm đình chỉ vì lý do cơ quan lưu giữ tài liệu, chứng cứ không cung cấp cho Tòa án theo yêu cầu mà đến nay vẫn chưa có phương án khắc phục tình trạng này một cách hữu hiệu.

Thứ năm: Điều 192 quy định về trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện: Trường hợp “cố tình giấu địa chỉ” vẫn còn có cách hiểu khác nhau và đối với vụ án Hôn nhân và gia đình chưa có hướng dẫn cụ thể nên gặp khó trong quá trình áp dụng.

Thứ sáu: Điều 196 quy định về thông báo về việc thụ lý vụ án: “Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án”.

 Thời hạn quy định quá ngắn, gây khó cho Tòa án thậm chí có trường hợp không thể thực hiện theo thời gian quy định.

Thứ bảy: Khoản 3 Điều 200 quy định về quyền yêu cầu phản tố của bị đơn: “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”; khoản 2 Điều 201 quy định về quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.

Theo quy định bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải thì Tòa án sẽ không xem xét trong cùng vụ án. Còn đối với trường hợp nguyên đơn có yêu cầu khởi kiện bổ sung nhưng vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vậy trường hợp này Tòa án có nhận đơn và cho dự nộp tạm ứng án phí không? Căn cứ pháp lý nào để nhận đơn cho dự nộp tạm ứng án phí hoặc căn cứ pháp lý nào không cho dự nộp tạm ứng án phí, vì tại Bộ luật Tố tụng dân sự chưa có quy định rõ.

Ảnh: Hội thảo khoa học về “Nâng cao kỹ năng hòa giải đối với các vụ án dân sự”

Thứ tám: Điểm a khoản 1 Điều 203 quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử: “Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.”

Quy định này là khó thực hiện vì để giải quyết xong một vụ án kinh doanh thương mại, tranh chấp đất là những vụ án có tình tiết phức tạp, liên quan đến nhiều đương sự, phải thu thập chứng cứ từ nhiều nguồn thì cần phải có thời gian, cá biệt có trường hợp đương sự cố tình vắng mặt, Tòa án phải nhiều lần thực hiện việc cấp, tống đạt, niêm yết… Điều này dẫn đến tình trạng phải kéo dài thời gian giải quyết vụ án, gây khó khăn, tốn kém cho đương sự.

Thứ chín: Điều 259 quy định về tạm ngừng phiên tòa: Quy định về tạm ngừng phiên tòa trong một số trường hợp cụ thể nhưng lại không quy định rõ trường hợp những người tiến hành tố tụng vì lý do nào đó không thể tiến hành tố tụng đối với vụ án được thì xử lý thế nào dẫn đến có những cách hiểu và thực hiện khác nhau.

Tại Điểm c khoản 1 Điều 259 quy định về tạm ngừng phiên tòa: “Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có quyền quyết định tạm ngừng phiên tòa khi có một trong các căn cứ sau đây: … c) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung tài liệu, chứng cứ mà nếu không thực hiện thì không thể giải quyết được vụ án và không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa”.

Trường hợp vụ án không có Viện kiểm sát tham gia, nhưng tại phiên tòa Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải thu thập, xác minh chứng cứ nên tạm ngừng phiên tòa để điều tra xác minh, thu thập chứng cứ. Khi Tòa án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ thì thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia (khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự). Như vậy, trường hợp trên được xử lý như thế nào thì luật tố tụng chưa có quy định cũng như chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện. 

Thứ mười: Điều 262 quy định: “Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong…

Ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án để lưu vào hồ sơ vụ án”.

Đồng thời tại khoản 3 Điều 28, khoản 4 Điều 30, khoản 3 Điều 31 Thông tư liên tịch số 02/2016/TTLT-VKSNDTC-TANDTC, ngày 31/8/2016 quy định: “Văn bản phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên phải có chữ ký của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp”.

Quy định ngay sau khi kết thúc phiên tòa, Kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho Tòa án là chưa phù hợp, khó thực hiện trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Bởi lẽ, có trường hợp phát sinh tình tiết tại phiên tòa làm thay đổi nội dung vụ án khác với dự thảo phát biểu của Kiểm sát viên nên cần được chỉnh sửa hoàn chỉnh và ký ban hành. Do đó, việc gửi ngay cho Tòa án sau khi kết thúc phiên tòa là chưa phù hợp.

                                                                           Nguyễn Thành Lập