Thứ nhất: Tại Chương XVI, Các tội phạm xâm phạm sở hữu, tình tiết “Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” được áp dụng là tình tiết định khung cấu thành cơ bản tại khoản 1 đối với 04 tội: Tội trộm cắp tài sản (Điều 173); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 172); Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178). Đồng thời được áp dụng là tình tiết định khung tăng nặng khoản 2, khoản 3 đối với 05 tội: Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170); Tội cướp giật tài sản (Điều 171); Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175).

Ảnh: Bộ luật Hình sự 2015

Trên thực tế khi áp dụng tình tiết này sẽ gặp những khó khăn nhất định do cách hiểu, nhận thức thiếu thống nhất trong thực tiễn áp dụng vì đây là tình tiết, hậu quả mang tính phi vật chất; việc đánh giá, áp dụng dễ mang tính tùy nghi, phụ thuộc vào nhận thức của các cơ quan, người tiến hành tố tụng cũng như phụ thuộc vào đặc trưng, điều kiện phát triển kinh tế của từng vùng miền, địa phương khác nhau. Nếu như các cơ quan tiến hành tố tụng không thận trọng đánh giá, khi áp dụng tình tiết này là tình tiết định khung cơ bản, cấu thành tội phạm sẽ dẫn đến oan, sai, bỏ lọt tội phạm, hình sự hóa quan hệ hành chính. Ngoài ra, còn tạo ra sự khác biệt, không thống nhất trong nhận thức giữa các địa phương. Khi áp dụng tình tiết này là tình tiết định khung cơ bản, tình tiết định khung tăng nặng cần phải được quy định trong từng lĩnh vực cụ thể, mức độ, diện ảnh hưởng như thế nào đối với tình hình trật tự, an toàn, xã hội... có như vậy mới tránh áp dụng tùy tiện theo vùng, địa phương, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm.

Thứ hai: Điểm a khoản 1 Điều 175 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định: “Vay, mượn, thuê tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả”. Tuy nhiên, như thế nào là “bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, gây khó khăn trong việc áp dụng, thi hành luật. Bên cạnh đó, việc chứng minh đến thời hạn trả lại tài sản rất khó khăn do trường hợp cá nhân cho vay, mượn, thuê tài sản không thể hiện thời gian tự trả nợ; mặt khác việc chứng minh “có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” là rất khó khăn, quy định còn mang tính định tính, cần có hướng dẫn cụ thể.

Thứ ba: Khoản 1 Điều 330 Tội chống người thi hành công vụ quy định: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể việc cản trở người thi hành công vụ đến mức độ nào thì xử lý hình sự. Việc cản trở dẫn đến gây thương tích cho người chống người thi hành công vụ thì xử lý như thế nào. Vì tại Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tình tiết định khung là phạm tội đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân. Do đó, hiện nay việc áp dụng pháp luật về Tội chống người thi hành công vụ vẫn chưa thống nhất.

Ảnh: Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung

Thứ tư: Khoản 1, Điều 321 Tội đánh bạc quy định: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…”.

Đối với tội này, hiện nay chỉ có Nghị quyết số 01/2010/NQ-HĐTP, ngày 22/10/2010 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc. Tuy nhiên, Nghị quyết chưa hướng dẫn rõ thuật ngữ: “nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết dẫn đến khó khăn trong việc nhận thức pháp luật. Trường hợp“nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau” là cùng ngồi chung 01 chiếu bạc và ăn thua lẫn nhau thì mới được áp dụng điểm a, khoản 4, Điều 1 của Nghị quyết hay chỉ cần ngồi chung 01 chiếu bạc thì áp dụng. Bởi vì trên thực tế, có nhiều hình thức đánh bạc, mặc dù ngồi cùng chiếu bạc nhưng những người đánh bạc không ăn thua lẫn nhau mà chỉ ăn thua với nhà cái. Ví dụ: Đánh bài cào, xóc đĩa, bài binh thủ cái… các hình thức đánh bạc này có tính chất ăn thua giống như chơi số đề, cá độ bóng đá, cá độ đua ngựa quy định tại điểm b, khoản 4 Điều 1 của Nghị quyết nhưng lại cùng ngồi chung 01 chiếu bạc. Do đó, việc áp dụng pháp luật đối với trường hợp này còn gặp nhiều khó khăn khi xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc.

Thứ năm: Điểm t khoản 1 Điều 51 các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án”. Vấn đề này còn có quan điểm khác nhau trong quá trình áp dụng. Do vậy, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Thứ sáu: Điểm g khoản 1 Điều 52 Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Phạm tội 02 lần trở lên”: Trong quá trình áp dụng có nhiều quan điểm khác nhau do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể việc áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Thứ bảy: Điểm d khoản 2 Điều 327 Tội chứa mại dâm: “Chứa mại dâm từ 04 người trở lên” và tội chứa mại dâm theo điểm c khoản 2 Điều 254 của Bộ luật Hình sự năm 1999 “Phạm tội nhiều lần”.

Theo hướng dẫn tại mục 4 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, ngày 12-5-2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nói trên thì: Chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội nhiều lần” đối với người chứa mại dâm khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Chứa mại dâm (không phân biệt tại một địa điểm hay tại các địa điểm khác nhau) một đôi hoặc nhiều đôi mua bán dâm khác nhau từ hai lần trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau (không phân biệt thời gian dài hay ngắn); b) Chứa mại dâm hai đôi mua bán dâm trở lên độc lập với nhau trong cùng một khoảng thời gian; c) Chứa mại dâm một người mua bán dâm với hai người trở lên trong các khoảng thời gian khác nhau.

Không coi là phạm tội nhiều lần trong các trường hợp sau đây: a) Chứa mại dâm một đôi mua bán dâm trong một khoảng thời gian liên tục; b) Chứa mại dâm nhiều người (một nhóm) cùng đến mua bán dâm, nhưng chỉ một người trong số họ hoặc một số người trong số họ hoặc tất cả họ cùng nhau thoả thuận đứng ra giao dịch với người chứa mại dâm để trả tiền thuê địa điểm, phương tiện một lần và việc mua bán dâm diễn ra trong cùng một khoảng thời gian.

Như vậy, với quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 chưa quy định rõ việc chứa từ 04 người trở lên là chỉ đối với người mua hay người bán hay cả người mua và người bán. Do vậy, cần có văn bản hướng dẫn cụ thể quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Thứ tám: Nghị quyết 41/2017/QH14 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2017 về việc thi hành Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể nên các cơ quan tố tụng gặp khó khăn trong việc áp dụng, viện dẫn quy định của Bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội xảy ra trước 0 giờ 00 phút ngày 01/01/2018 mà Bộ luật hình sự năm 1999 quy định là tội phạm, Bộ luật hình sự năm 2015 không phải là tội phạm (như tội Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); khung hình phạt ngang nhau giữa hai bộ luật.

                                                                              Nguyễn Thành Lập