Các cấp ủy, tổ chức đảng; các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh đã chủ động ban hành chương trình, kế hoạch, quy định chỉ đạo tổ chức thực hiện Kế hoạch số 47-KH/TU; Kế hoạch số 48-KH/TU, ngày 04-5-2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng. Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 12/KH-UBND, ngày 08-02-2018 về công tác phòng, chống tham nhũng và thực hiện Chương trình hành động về phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh năm 2018 đến năm 2020; Kế hoạch số 64/KH-UBND, ngày 25-6-2018 tiếp tục tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng trên địa bàn tỉnh Cà Mau; Công văn số 8659/UBND-NC, ngày 31-10-2018 về tăng cường công tác minh bạch tài sản, thu nhập. Theo đó, các đơn vị, địa phương xây dựng kế hoạch phòng, chống tham nhũng và thực hiện chương trình hành động về phòng chống tham nhũng đến năm 2020 (trong đó có kế hoạch hàng năm); kế hoạch tự kiểm tra nội bộ và kế hoạch tự kiểm tra công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, đơn vị; kế hoạch kiểm tra trách nhiệm việc thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng để tổ chức thực hiện tại đơn vị, địa phương mình…

Trung tâm giải quyết thủ tục hành chính tỉnh Cà Mau

Công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị đã có những chuyển biến mạnh mẽ, như công khai, minh bạch về chính sách, pháp luật, trách nhiệm giải trình…Các cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương thực hiện công khai, minh bạch các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kế hoạch công tác hàng năm, quý, tháng của cơ quan, đơn vị; kinh phí hoạt động; quyết toán kinh phí; tài sản, trang thiết bị; kết quả kiểm toán; công tác tổ chức cán bộ, công tác thi đua, khen thưởng…; các đề án, dự án và việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, đơn vị; các vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan, đơn vị đã được kết luận; bản kê khai tài sản thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị; nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị…

Các cấp uỷ, tổ chức đảng thường xuyên quan tâm đến việc lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc xây dựng và thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị đều thực hiện tốt chế độ tự chủ về tài chính, biên chế và giao khoán kinh phí hoạt động; việc chi tiêu được thực hiện trên cơ sở quy chế chi tiêu nội bộ của cơ quan, đơn vị xây dựng hàng năm theo quy định; xây dựng và thực hiện các chế độ định mức, tiêu chuẩn trong quản lý, sử dụng nguồn kinh phí, tài sản công trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị; 100% các đơn vị sự nghiệp thực hiện khá tốt Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, ngày 25-4-2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Nội vụ, các cơ quan, đơn vị, địa phương ban hành quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề của cán bộ, công chức, viên chức; thường xuyên chấn chỉnh tác phong làm việc, ý thức chấp hành kỷ luật của cán bộ, công chức, viên chức trong đơn vị. Từ đó, góp phần nâng cao chuẩn mực, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức ngày càng tốt hơn.

Các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục triển khai và tổ chức thực hiện tốt việc thực hiện chuyển đổi vị trí công tác của cán bộ, công chức, viên chức theo Nghị định 158/2007/NĐ-CP, ngày 27-10-2007 của Chính phủ quy định danh mục các vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định 150/2013/NĐ-CP, ngày 01-11-2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 158/2007/NĐ-CP. Trong năm, các cơ quan, đơn vị trong tỉnh đã thực hiện chuyển đổi vị trí công tác được 203 trường hợp.

Các cấp ủy đảng, chính quyền tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc thực hiện kê khai, công khai và kiểm soát việc kê khai tài sản; Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng làm tốt công tác hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản. Số đơn vị phải kê khai tài sản thu nhập là 76 đơn vị, so với cùng kỳ năm 2016 giảm 01 đơn vị (Nhà xuất bản Phương Đông giải thể); số đơn vị đã hoàn thành việc kê khai là 76 đơn vị, đạt tỷ lệ 100%. Số người phải kê khai tài sản, thu nhập là 7.556 người, giảm 311 người so với cùng kỳ năm 2016. Lý do: một số người nghỉ hưu theo chế độ; một số phòng, ban của một số cơ quan, đơn vị, tổ chức sáp nhập lại. Số người đã kê khai tài sản, thu nhập là 7.555 người, đạt tỷ lệ 99,99%, 01 người không kê khai, lý do bị bắt tạm giam và bị kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc. Số lượng bản kê khai tài sản, thu nhập lưu giữ tại cơ quan, đơn vị 5.463 bản. Số lượng bản kê khai tài sản, thu nhập do cấp ủy quản lý 2.092 bản. Số bản kê khai tài sản, thu nhập được công khai 7.555 bản, đạt tỷ lệ 100% (Số bản kê khai tài sản, thu nhập được công khai theo hình thức niêm yết 3.141 bản, đạt tỷ lệ 41,6%; Số bản kê khai tài sản, thu nhập được công khai theo hình thức công bố tại cuộc họp 4.414 bản, đạt 58,4%).

Trong năm có 01 trường hợp bị kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo vì thiếu kiểm tra để cán bộ cấp dưới tham ô tài sản gây hậu quả nghiêm trọng theo Nghị định số 107/2006/NĐ-CP, ngày 22-9-2006 của Chính phủ quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình phụ trách, quản lý và Nghị định số 211/2013/NĐ-CP, ngày 19-12-2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 107/2006/NĐ-CP.

Công tác cải cách hành chính luôn được các cấp uỷ Đảng quan tâm chỉ đạo, nhiều cơ quan, đơn vị có sự chuyển biến tích cực, người đứng đầu cơ quan, đơn vị đã thể hiện tốt vai trò, trách nhiệm, công tác cải cách hành chính được tập trung chỉ đạo quyết liệt, mạnh mẽ; việc thực hiện công khai, cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính tiếp tục được quan tâm, tỉ lệ hồ sơ giải quyết đúng và trước thời hạn đạt trên 99,7%; việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật cơ bản kịp thời, đạt chất lượng; việc xây dựng, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả được quan tâm đầu tư; trung tâm Giải quyết thủ tục hành chính của tỉnh đi vào hoạt động ổn định, hiệu quả. Việc đổi mới công nghệ và phương thức thanh toán được đẩy mạnh thực hiện, việc sử dụng phần mềm VIC để xử lý văn bản tại các cơ quan, đơn vị đạt tỉ lệ cao (cấp tỉnh 98%, cấp huyện 93%); phần mềm một cửa, một cửa liên thông điện tử (IOS điện tử) được áp dụng thực hiện tại các cơ quan hành chính cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; thực hiện cung cấp dịch vụ công trực tuyến thông qua Cổng dịch vụ công của tỉnh, theo đó đã cung cấp 1.090 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4.

Công tác kiểm tra, giám sát luôn được các cấp uỷ, tổ chức đảng quan tâm; các huyện uỷ, thành uỷ, đảng uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, tổ chức, đơn vị chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện toàn diện các quy định, hướng dẫn của Trung ương, của Tỉnh uỷ về nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng quy định đối với tổ chức đảng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các cấp uỷ, Uỷ ban Kiểm tra, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc các cấp tổ chức thực hiện; công tác tự kiểm tra nội bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị được quan tâm và thực hiện khá thường xuyên. Đoàn đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và tổ chức chính trị - xã hội đều có kế hoạch giám sát việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước (nói chung), về lĩnh vực phòng ngừa tham nhũng (nói riêng). Các cơ quan nhà nước luôn tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phát huy vai trò của mình trong công tác phòng, chống tham nhũng nói chung, trong đó Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan thông tin đại chúng giữ vai trò trung tâm, đầu mối.

Nguyễn Thanh Nguyên